NGŨ HÀNH NẠP ÂM: HỎA

Các tuổi Mậu Tý, Kỷ Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Thìn, Ất Tị, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi nạp âm đều là hỏa.

Mậu Tý, Kỷ Sửu: Phích Lịch hỏa
Phích Lịch hỏa, là một luồng hào quang, hiệu lệnh là Cửu Thiên, thế điện chớp giật Kim Xà, nói là Kỵ binh đuổi chạy. Hỏa này cần sự giúp đỡ của Phong Thủy Lôi (gió nước sấm sét) mới thành biến hóa, nếu ngũ hành gặp được một lúc, đều chủ hanh thông. Như ngày giờ thấy Đại Hải thủy, Quý Hợi gọi là Dẫn phàm nhập Thánh, Kỷ Sửu là vi thượng, Mậu Tý là thứ; thấy Ất Mão Đại Khê, là lôi hỏa biến hóa, Kỷ Sửu là cát, Mậu Tý là kị; Thìn Tị là gặp gió chuyển động, gặp càng tốt; Thiên Thượng thủy danh là Ký tế, chủ cát, gặp thì có linh tính, thông minh khác thường, Trường Lưu thì vô dụng, Giản Hạ tuy là tụ vị trí tương khắc, chỗ này là hỏa thần vậy, không kị, có gió cũng hiển. Ngũ hành thấy mộc, Tân Mão có lôi, Đại Lâm có phong, Bình Địa có Thiên Môn, cùng giúp đỡ hỏa này, còn mộc là vô dụng. Thấy Lộ Bàng thổ, thêm Tốn thì cát, Đinh Tị Sa Trung có phong, Kỷ Mão có lôi, được Tỉnh Tuyền trợ giúp, cũng chủ quý hiển. Kiếm kim thêm thủy, Hải kim gặp phong, Chá kim gặp Giản, đều cát, kim còn lại vô dụng. Thấy Lô Trung Đinh Mão là cát, Mậu Tý gặp Bính Dần, quá táo thì tính hung, chủ yểu. Kỷ Sửu thấy Bính Thân lại được, Mậu Tý là kị; Đăng Hỏa, Đông Nam Tốn địa, có phong là rất thích hợp; Mậu Ngọ Kỷ Mùi Thiên Thượng hỏa, ngày giờ nếu gặp, đề phòng hình khắc. Lại khảo sát thêm ở Diệu Tuyển, có bày ra Phong Lôi Vũ cách, tức là Phích Lịch thấy Thiên Hà vậy, có Thiên Địa trung phân cách, tức là Mậu Tý thấy Mậu Ngọ vậy, có Lôi Đình Đắc Môn cách, tức là Mậu Tý Kỷ Sửu, ngày giờ gặp Mão là đúng.

Bính Dần, Đinh Mão: Lư Trung hỏa
Lư trung hỏa, là lò lửa giữa trời đất, là than củi âm dương, ánh sáng bốc lên ở giữa vũ trụ, trở thành nung đúc ở Càn Khôn. Hỏa này là Viêm thượng, hỷ được mộc sinh, duy chỉ có Bình Địa mộc là vi thượng, lấy Bính Dần thấy Kỷ Hợi, gọi là Thiên Ất quý, thấy Mậu Tuất, gọi là quy khố, cho nên cát, Đinh Mão là thứ. Nhưng Bính Dần là hỏa tự sinh, không có mộc để tựa, Đinh Mão là hỏa tự bại, nếu không có mộc thì hung, mà hỏa này lấy kim làm dụng, được thêm kim đến, mới ứng cơ hóa, nhưng Đinh Mão không có mộc mà lại gặp kim, chủ mệnh lao khổ. Nói Dần kiến mộc nhiều hỏa, viêm mà không có thủy chế, chủ yểu, thấy 3 Mão, 2 mộc thì không ngại, như Canh Dần Tân Mão là nói tương sinh, Nhâm Ngọ Quý Mùi là hóa chân hỏa, thấy Dần nhiều chủ hung bạo hoặc tật yểu. Nếu trời đất vốn có thủy chế, cũng chủ trung thọ, Đinh Mão không ngại. Hỏa này tuy hỷ được kim là Tài, ở trong Kiếm kim thấy Dần hơi được, Đinh Mão hỏa đã tự bại, lại đến Thân Dậu mà tử tuyệt, làm sao mà khắc! Không bần cũng yểu. Các loại kim như Hải Trung, Sa Chá, cần giúp mộc sinh, mới hỷ thấy, Soa Bạc kim là vô dụng. Thấy thổ trước tiên phải có kim và mộc, nhưng hỷ có đủ thổ, không đến nỗi quá khô táo. Như Thành Đầu, ốc Bích thổ đều thành khí, mới thích thấy thủy, trong mệnh trước tiên là thích mộc, không bằng hỷ gặp nhiều hỏa. Thiên Thượng thanh thủy, mạnh Dần gặp là cát, trong Mão không có mộc thì lo; Đại Hải, Bính Dần thấy Nhâm Tuất là phúc khố, thấy Quý Hợi là Quan tinh, mang hợp thì nửa hung nửa cát; Tỉnh Giản, Khê Lưu thủy đều hung, có mộc thì không luận ở đây. Hỏa thấy đồng loại, nếu trên tháng ngày suy bại thì cát; Phích Lịch hỏa bản tự là vô ích, nếu có mộc sinh, ngày giờ lại có Hải thủy thì tốt, không có mộc gặp thủy, thì hung; Thiên Thượng hỏa cần có Ốc Thổ chận, Đăng hỏa Tốn phong, lại là khích lệ, Vong Thần phải kiêm tạo hóa, đoán như Bính Dần, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Bính Dần là hỏa vô khí, không mất đại quý, như Bính Dần, Giáp Ngọ, Kỷ Tị, Bính Dần thì phiêu phiếm bất an.

Giáp Thìn – Ất Tị, Phúc Đăng hỏa
Phúc Đăng hỏa, là kim ngọn đèn chiếu sáng, là đài châu ngọc nhả ra xinh đẹp, theo chỗ Nhật Nguyệt không theo, sáng khi lúc trời đất không có sáng. Hỏa này chính là hỏa sáng ở ban đêm trong nhân gian, lấy mộc làm trung tâm, lấy thủy làm dầu, gặp âm thì cát, gặp dương thì bất lợi. Phàm ngày giờ tối kị lại thấy Thìn Tị, địa chi có xung, e rằng gió thổi tắt đèn, chủ yểu. Hoặc lấy Tuất Hợi, Tý Sửu là âm, hoặc lấy từ Mùi đến Hợi là âm. Ngũ hành thấy mộc là bản căn, phàm mộc đều là tốt, gặp thêm Quan tinh, Lộc quý giúp nhau, can đầu hóa thủy, càng cát; vận hạn gặp tương trợ, là đại quý. Lấy Tỉnh Tuyền thủy, Giản Hạ thủy là chân dầu nhớt, dầu chảy dài, ở Diệu Tuyển có Ám Đăng thiêm Du cách, tức là lý này vậy; Đại Hải, Hà thủy thì không thể lấy làm dầu nhớt, gặp là tầm thường. Nói chung hỏa này, thấy thủy phải giúp mộc, không thích trường sinh vượng khí, thủy quá phiếm, lại hung. Mệnh gặp Bạc kim chiếu diệu, rất là thanh quý, cũng cần thủy mộc giúp nhau, mới có thể hiển đạt; Sa Trung, Soa Xuyến hai kim này đều cát; Kiếm Phong kim, gọi là Đăng hoa phất Kiếm, càng cát; Chá kim thì không hợp. Ngũ hành thấy thổ, phải đề phòng khắc phá. Nếu là Bích thổ có thễ an thân, Ốc thổ thì có thể có phúc ấm, ngày giờ cùng thấy, chủ phúc quý, Sa thổ có mộc, cũng có y thực, thổ còn lại là vô dụng. Hỏa yêu đồng loại, lại sợ gió thổi. Phích Lịch là hỏa Thần Long biến hóa, tất là mang gió đến, thì hỏa này khó mà tồn tại; Thiên Thượng, Lư Trung 2 hỏa này nếu cùng thấy, là tối hung. Lại tra thêm Diệu Tuyển, có Khôi Tinh cách, Chỉ Nam cách, lấy người sinh Giáp Thìn, ngày giờ gặp Ngọ Mùi là đúng; có Hỏa Thổ nhập Đường cách, lấy hỏa này sợ gió, ngày giờ gặp Bính Tuất Đinh Hợi Ốc Thượng thổ, thì đèn ở trong nhà, lại có thêm dầu, là càng quý.

Mậu Ngọ – Kỷ Mùi, Thiên Thượng hỏa
Thiên Thượng hỏa, làm ấm áp núi sông, chiếu sáng vũ trụ, Nhật (mặt trời) đức chiếu sáng đẹp đẽ ở trên trời, Nguyệt Tinh (Mặt trăng và các vì sao) cách ly chiếu sáng ở trên biển, Mậu Ngọ là Thái Dương thì cương, Kỷ Mùi là Thái Âm thì nhu, hoặc lấy lấy Nhật ở mùa hạ thì cương, Nhật ở mùa đông thì ôn nhu, là vu khống vậy. Đều yêu cầu Tuất Hợi là Thiên Môn, Mão Dậu là cánh cửa xuất nhập, đông nam là hành lục địa thì cát. Hỏa này thấy mộc gọi là Chấn chiết, ngày giờ cần có phong cùng thủy mới được. Đại Lâm mộc có Thìn Tị, Tùng Bách, Thạch Lựu có Mão Dậu, cho nên duy chỉ có 3 mộc này là quý. Ngọ thấy mộc nhiều vẫn còn được, 3 Mùi, 4 mộc, là mệnh lao khổ vậy. Thấy kim mà có thể chiếu sáng, không thể khắc cứu. Soa kim có Tuất Hợi, Bạc kim có Dần Mão, chủ cát; thấy kim là Nhật Nguyệt chiếu sáng, tất chủ thiếu niên đăng khoa đệ; kim còn lại thì tai ương. Thủy cần Giản Hạ, cần Mậu Ngọ thấy Đinh Sửu, Kỷ Mùi thấy Bính Tý, âm dương giao hỗ nhau, mới là phúc quý, trong trụ có thêm mộc giúp sinh, phú quý song kim; Đại Khê có Ất Mão, Tỉnh Tuyền có Kỷ Dậu, có cửa xuất nhập, đều cát; Thiên Hà Vũ lộ cứu nhau, không lấy vị trí khắc luận, Mậu Ngọ thấy Đinh Mùi, cũng cát, Bính Ngọ thì không sáng. Hỏa thích Đăng đầu, lại có hỏa khác thì khô táo; Phích Lịch mang mây mưa thì Nhật Nguyệt không có ánh sáng, cho nên chủ hôn mê ngu muội; Lư Trung Ngọ kị Bính Dần, Tị Ngọ là cương hỏa, mới thấy Bính Dần, thì là đất hỏa sinh, nếu không có thanh thủy giải cứu, chủ phạm hình hung tử, Đinh Mão thì hơi được; thổ thấy Sa Trung, có Tốn làm phong; Lộ Bàng, Thành Ốc đều cát, trong trụ có thêm kim mộc trợ nhau, càng cát. Khảo sát Diệu Tuyển, Mậu Ngọ gặp Mão, Kỷ Mùi gặp Dậu, là Nhật Nguyệt phân tú cách, mà Mão lấy Ất Mão, Tân Mão là chính, Kỷ Mão, Đinh Mão là thứ, Dậu lấy Ất Dậu, Quý Dậu là chính, Kỷ Dậu, Đinh Dậu là thứ; có Nhật xuất Phù Tang cách, tức là Nhật phân tú cách, ngày giờ lại thấy Tị Ngọ; có Nhật luân Đương Biểu cách, lấy Mậu Ngọ sinh ở Ngọ, ngày gặp ngày Tị Ngọ, lại lấy Mậu Ngọ thấy Mậu Tý là chính vị trí Khảm Ly; có Nguyệt sinh Thương Hải cách, tức là Nguyệt phân tú cách, mà Dậu được Ất Quý là vậy; có Nguyệt chiếu Hàn Đàm cách, là thủ Nhâm Quý Hợi Tý, nạp âm thuộc thủy là Đàm, nhưng tất phải sinh mùa thu mới quý; có Nguyệt Quế phân phương cách, người sinh là Kỷ Mùi, trụ có 3, 4 mộc củng tập, cùng giống Quế Lâm cách, cùng Quế Lâm Tị ít mới quý, Phân Phương Tị nhiều là quý, nghĩa đều có chỗ dùng vậy. Lại xét trong hung cách, Thái Dương tổn ánh sáng, Mậu Ngọ không chịu được ở thủy tràn, là sợ thủy thịnh; Thái Âm bạc thực, Kỷ Mùi sao kham ở thổ nhiều chứ? Là sợ thổ trọng vậy. Cần phải tham khảo cùng như thế, mới hiểu hết lý.

Bính Thân – Đinh Dậu, Sơn Hạ hỏa
Sơn Hạ hỏa, ánh sáng rực chiếu cây cỏ, hoa Lý lóa sáng, ánh sáng chiếu rừng cây xen cành lá, màu sắc ngăn cách màn che điểm trên quần áo, Phương Sóc lấy danh là Huỳnh Hỏa, cho nên trong Diệu Tuyển có Huỳnh Hỏa chiếu Thủy cách, sinh gặp mùa thu thì quý hàng Khanh Giám, là vì hỏa này hỷ thủy, địa chi phùng Hợi Tý, hoặc nạp âm thủy gặp thêm tháng Thân Dậu là vậy. Hoặc vì Sơn Hạ hỏa tối hỷ mộc và sơn, lại gặp gió đến tăng thêm ánh sáng là quý, thì không lấy Huỳnh Hỏa luận vậy. Đại Lâm mộc có Thìn Tị là phong là gió, Tang Chá mộc có Quý Sửu là sơn, Tùng Bách Bình Địa là tối cát, lại thêm phong trợ giúp, chủ quý, nếu gió nhiều thổi tán, là chủ yểu. Thủy thích Tỉnh Tuyền, Giản Hạ, có mộc trợ giúp, chủ tước vị hiển cao, Đại Hải thủy thì không hợp, nhưng có sơn (núi) cũng ứng quý cách. Dần Mão là đông phương đất mộc vượng hỏa sinh, chỉ có Giáp Dần mới cát, Ất Mão là Chấn, có phong, thấy không tốt. Nếu không có hỏa không có sơn, lại thêm Phích hỏa, chủ yểu. Thiên Thượng thủy là mưa rào, hỏa này không thích thấy, nếu trước có sơn thủy trợ giúp, cũng không đại hại. Mệnh lý có kim, lấy thanh tú là cát, không có gặp nhiều mộc, lấy cướp khí mà luận. Ất Sửu là sơn, chủ quý; kim còn lại nếu không có khắc phá, gặp Quý nhân Lộc Mã, chỉ lấy Tài luận. Thổ thấy Sa Trung, Thìn Tị có phong, nếu có mộc có sơn trợ thêm, chủ đại quý, không có thì hư danh. Hỏa kị Thái Dương, Phích Lịch, Đăng Đầu, Tốn là chủ phần đa là quang hiển. Ngũ hành có hỏa, cần mộc giúp là cát, hạn số hỷ kị, đều theo chỗ này mà đoán.

Giáp Tuất – Ất Hợi, Sơn Đầu hỏa
Sơn Đầu hỏa, cũng là nguyên liệu đốt cháy, cháy lan hết tầm nhìn, là ánh tà dương đi theo phía chân trời, mặt trời lặn phảng phát trên đỉnh núi, chỗ này chính là tháng 9 khai hoang, cây cỏ suy hỏa tàn lụi vậy. Đại khái cần sơn mộc và phong mộc, hỷ Đại Lâm, Tùng Bách, lấy Thìn Tị có phong, Dần Mão là quy lộc, lại thêm Quý Sửu là cây cỏ trên núi, chủ quý. Không có sơn thì mộc không có nơi nương tựa, thì hỏa không có chỗ thấy, dẫu có gió cũng không hiển quang, mộc còn lại thì vô dụng, chỉ lấy Lộc Mã mà xem. Thủy hợp với Giản Hạ, đa số là giao Thái (tốt), chủ cát, Tỉnh Tuyền là thanh thủy, có mộc trợ giúp, cũng cát; Đại Khê, Giáp Tuất thấy Giáp Dần, Ất Hợi thấy Ất Mão, lại là chân Lộc, đều cát; Thiên Thượng cần có mưa sương, mà hỏa đến Ngọ Mùi là đắc địa, lại được thanh thủy cứu giúp, không đến nỗi khô táo, chủ phúc, nếu không thì yểu; Đại Hải vừa đúng chỗ tương khắc, tối hung, có gặp sơn, hơi được. Ngày giờ thấy kim là Tài, phải có sơn mộc trợ giúp thì cát, không có thì hung. Thấy thổ duy chỉ có Sa Trung là có Tốn, có thể giương cao hỏa này, thổ khác là vô ích. Nói chung, hỏa này không có mộc thấy hại, đa số là mệnh hạ tiện. Thấy Lư Trung hỏa quá viêm, Phích hỏa là hung hại, Thái Dương là hôn muội, Sơn Hạ thì hình chiến, đều là chỗ không thích hợp, mệnh mang 2, 3 hỏa, như hạn số phùng mộc, chủ họa sinh bất trắc, hoặc yểu, phần lớn hỏa này rất sợ gặp hình xung.

Nguồn: Sách Tam Mệnh Thông Hội – Dục Ngô Sơn Nhân. Dịch sang tiếng việt: Lesoi – diễn đàn tubinhdieudung.net

Blog Attachment

Login

Register | Lost your password?