Tự học tử vi bài 16: ý nghĩa 12 cung nhân bàn

<img class= Lập quẻ dịch" >

Tự học tử vi bài 16: ý nghĩa 12 cung nhân bàn trong tử vi

Trên lá số Tử Vi có cung vị và cung chức;

– Cung vị (hay Thiên – Địa bàn): là các cung cố định trên lá số như TÝ, SỬU, DẦN, MÃO…

– Cung chức (hay nhân bàn): bắt đầu từ cung Mệnh, theo chiều ngược chiều kim đồng hồ sẽ lần lượt là các cung: Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức (Tử Nữ ), Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu. Cung Thân (nằm trên cùng vị trí với một trong sáu cung: Mệnh, Tài, Quan, Di, Phúc, Phu Thê)

Dưới đây là ý nghĩa của 12 cung chức trên lá số

Cung mệnh:

Là bản mệnh của con người, xem cung này để biết sang – hèn, thọ- yểu của một đời người từ khi sinh ra đến lúc về với cát bụi. Đây là cung đại biểu nhất, mạnh nhất, chi phối toàn bộ cuộc đời. Và bản thân nó cũng bị chi phối bởi tất cả các cung còn lại

Cung Huynh Đệ:

Thể hiện tình trạng mối quan hệ giữa đương số và anh chị em trong gia đình, kể cả không cùng huyết thống (cùng cha khác mẹ, anh chị em nuôi, kết nghĩa . . .) và đôi khi trên một phương diện nào đó, nó thể hiện một chút về hình dáng, tính tình, cuộc sống của người huynh đệ ấy. Có nghĩa nó không phải là số mệnh của huynh đệ nằm ở đấy mà chỉ là mối quan hệ của đương số thôi. Tức là chỉ xem xét trên khía cạnh mối quan hệ tốt-xấu hòa hợp hay không, có trợ giúp được cho nhau hay không.

Cung Phu Thê:

Thể hiện tình trạng quan hệ vợ chồng của đương số, quan hệ chính thức hay không chính thức. Đây cũng là nói đến mối quan hệ của người phối ngẫu, nhưng cũng là nơi thể hiện mối quan hệ nam nữ, thể hiện tình cảm nam nữ, thể hiện một phần dục vọng, ham muốn, tính trạng hôn nhân (sinh hoạt phòng the ) và một phần bóng dáng, tính tình cũng như cuộc đời của người phối ngẫu.

Cung Tử Tức:

Thể hiện tình trạng về mối quan hệ giữa đương số và Con,kể cả chính thức hay không cùng huyết thống (con nuôi,con dị bào, con “lạc lòng”…) ngoài ra còn thể hiện về tình trạng sinh nở nuôi dạy con cái,số con,và một đôi chút tương lai hình dáng,tính cách, cuộc đời của con cái trong đó.

Cung Tài Bạch:

Thể hiện tình trạng về tài sản của đương số, cũng như cách thức tạo dựng tài sản của đương số và diễn biến tình trạng tài sản của đương số. Cung Tài và Điền luôn song hành trong giải đoán, nên chú ý điều này. Cung Tài là cung Tam Hợp với Mệnh cung, nên rất quan hệ trong quá trình luận đoán, cần được xem xét kỹ.

Cung Tật Ách:

Thể hiện sự an nguy một đời người, sức khỏe, tai nạn, hung hiểm, tai ách, mất mát, đau thương… Nói chung, là tất cả những vận hạn tốt xấu. Cung này rất có quan hệ mật thiết với việc luận đoán vận Hạn. Khi luận đoán vận hạn cần phải kết hợp chặt chẽ với cung Tật Ách để phán đoán.

Cung Thiên Di:

Thể hiện sự đi lại, xuất ngoại của đương số. Nhưng đặc biệt vì nó có chính chiếu với cung Mệnh, cho nên nó có ảnh hưởng trực tiếp với cung mệnh, nó thể hiện cái môi trường hoạt động của đương số.

Cung Nô Bộc:

Thể hiện mối quan hệ của tất cả các mối quan hệ giao tiếp với đương số trừ lục thân. Nói chung, nó thể hiện tính trạng mối quan hệ xấu tốt của các mối quan hệ xã hội với đương số.

Cung Quan Lộc:

Thể hiện tình trạng công danh, công việc, sự nghiệp, diễn biến thăng trầm trên đường hành sự của một đời người. Nó là cung nằm trong quan hệ tam hợp chiếu với cung Mệnh nên đóng vai trò rất quan trọng trong giải đoán.

Cung Điền Trạch:

Thể hiện tính trạng nhà cửa, đất đai ruộng vườn của đương số, nó có quan hệ mật thiết với cung Tài Bạch trong luận đoán. Ngoài ra nó còn thể hiện quá trình tạo dựng điền sản cơ nghiệp, bất động sản trong suốt cuộc đời của đương số. Luận đoán cung Điền Trạch không thể tách rời trong khi luận Hạn.

Cung Phúc Đức:

Thể hiện mối quan hệ của đương số với dòng tộc, tổ tiên, đặc biết thể hiện tình trạng âm phần (mồ mả) của cha ông tổ tiên. Cung này là một cung rất đặc biệt, nó có tác dụng mạnh và rộng khắp, chi phối tất cả các cung trong lá số. Bất luận là xem vấn đề gì đều phải xem xét cung Phúc Đức.

Cung Phụ Mẫu:

Thể hiện tình trạng mối quan hệ của cha mẹ đối với đương số, dù chính thức hay không chính thức. Ngoài ra còn thể hiện một chút về cái sự thọ – yểu, sang – hèn, hình dang – tính tình của cha mẹ đương số.

Cung Thân:

Đây là một cung đặc biệt, nó không đóng cố định, tùy theo giờ sinh mà di chuyển trên sáu cung: Mênh – Phúc – Quan – Di – Tài – Phu Thê. Cung Thân có phần quan trọng không kém cung Mệnh. Nếu coi Mệnh là Thể, thì cung Thân là Dụng. Khi con người mới sinh ra, khí Tiên Thiên còn mạnh thì cái chi phối của cung Thân chưa đáng kể, đến khi ta lớn dần lên, khí Tiên Thiên dần yếu đi, khí Hậu Thiên lớn mạnh lên thì cái sự chi phối cung thân này càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, cái lý vẫn không tách rời cung mệnh. Dù trước hay sau cái tuổi 30 thì vẫn phải xem xét kỹ lưỡng cả hai cung Mệnh và Thân, chỉ khác là sự cân nhắc, gia giảm của người luận đoán mà thôi.

nguồn: http://hocvienlyso.org/tu-hoc-tu-vi-bai-16-y-nghia-12-cung-nhan-ban.html

Bình luận bài viết