Ngũ hành nạp âm: Kim

Giáp Tý, Ất Sửu: Hải Trung kim
Hải Trung kim, là bảo tàng ở Long cung, châu ngọc mang thai báu vật Giao Long, xuất hiện mặc dù ở Không trung, thành khí không có dựa vào ở hỏa lực, cho nên Đông Phương Sóc lấy danh là ngọc trai, rất có lý vậy. Diệu Tuyển có Châu tàng Uyên Hải cách, lấy Giáp Tý thấy Quý Hợi, là không dụng hỏa; gặp Không thì có Bạng Châu Chiếu Nguyệt cách, lấy Giáp Tý thấy Kỷ Mùi, là muốn Hợp hóa hỗ quý. Bởi vì lấy kim trong biển là vô hình, không phải không xung thì không thể xuất hiện, mà Ất Sửu là kim khố, cho nên không phải hỏa vượng thì không thể đúc rèn vậy. Như Giáp Tý thấy Mậu Dần, Canh Ngọ, là thổ sinh kim, Ất Sửu thấy Bính Dần, Đinh Mão, là hỏa chế kim. Thiên can lại gặp Tam Kỳ, loại cách cục này, thì không có không quý.
Nhâm Dần, Quý Mão: Kim Bạc kim
Kim Bạc kim, dùng để trau chuốt trang sức chén mâm, làm rạng rỡ cung thất, đánh mỏng cần phải mượn ở kim khác, tô màu tất là mượn ở thủy lực. Chỗ này kim rất nhỏ bé, không có mộc thì không có chỗ dựa vào. Lấy đất bằng phẳng là vi thượng, có chỗ này không nên thấy hỏa, có hỏa thì yểu. Gặp Thái Dương lộ rõ ở ban ngày, hai hỏa tương phản, không nên cùng thấy. Sơn Hạ, Sơn Đầu hỏa, có thủy thanh trong trợ giúp cũng cát. Duy chỉ có kị Lô trung hỏa, thì là tương khắc. Loại kim này thể nhược, không thể phản nguyên định là yểu, luận vận hạn cũng giống vậy. Tỉnh Tuyền, Giản Hạ, Thiên Hà là thủy thanh, hỷ thấy ở ngày giờ, Nguyệt lệnh cần có mộc, mới cát; Khê Lưu, Đại Hải là thủy đục, thấy Khê Lưu chủ phiêu đãng, thấy Đại Hải không có mộc làm gốc, là chủ hung tàn. Kim gặp Kiếm Phong, Soa Xuyến, có thể làm trang sức, lý là có phụ trợ thành tạo hóa, cho nên hỷ thấy; Sa Hải, Bạch Chá kim là vô ích, có hỏa giúp, cũng cát, không có thì cuối cùng là hung. Thành Đầu, Bích Thượng là hai thổ có chỗ dựa mà an thân, Thành Đầu chủ phần đa là gửi cho người, Bích Thượng thêm mộc thì quý, lại gặp Đăng Hỏa chiếu sáng rực rỡ, chủ quyền quý. Bính Tuất thổ trong tàng hỏa, can chi lại không nên quá viêm nóng, cũng là quý cách, tra cứu thêm ở Diệu Tuyển. Mệnh kim mà gặp Mậu Dần, là Côn Sơn phiến Ngọc cách vậy; Quý Mão mà gặp Kỷ Mão, là Ngọc Thỏ Đông Thăng cách vậy, cùng giống như Hải Kim ở trước.
Canh Thìn, Tân Tị: Bạch Chá kim
Bạch Chá kim, là Côn Sơn phiến Ngọc, kim rơi ở sông Lạc, giao lại ánh sáng của Nhật Nguyệt, khí âm dương ngưng tụ, hình rõ thể thanh, là màu sắc chính của kim vậy. Chỗ này kim chỉ có hỷ hỏa luyện, cần Lô Trung viêm hỏa. Nhưng nếu thấy Canh Thìn, không có thủy trợ giúp, là chủ bần yểu, Tân Tị thì lại lấy quý luận, bởi vì Tị là đất kim sinh, cho nên thấy Bính Dần hóa thủy gặp quý vậy; Sơn Hạ hỏa sinh sáng sớm, là chủ vinh quý, cũng cần thủy trợ giúp mới được. Tỉnh Tuyền, Đại Khê đều là quý cách. Canh Quan ở Đinh, Tân Quan ở Bính, cho nên Canh thấy Đinh Sửu, Quan quý đều có đủ; Tân thấy Bính Tý, không bằng Quý Tị thanh hơn, không quý cũng phú. Luận lúc thấy mộc, gặp nhiều là vô ích, vì kim này không thể tương khắc. Nếu trụ gặp hỏa vô khí, lại cần mộc sinh, có Lộc Mã Quý nhân mới cát. Thấy thổ chỉ nên mài xây sát, mới thành đồ dùng, thì cát, thổ khác là vô dụng. Kim kị Hải Sa, là chìm mất, ngày giờ gặp hỏa thì vinh. Nếu thấy kim thanh, thêm thủy tương trợ, hỏa cũng không thích, chỉ sợ xung hình. Diệu Tuyển có Tiếu Phong Mãnh Hổ cách, kim này lấy ngày giờ gặp Tân Tị hoặc Ất Tị là vậy.
Giáp Ngọ, Ất Mùi: Sa Trung kim
Sa Trung kim, đất bố trí hình dạng cứng rắn, tính chất quý báu ẩn ở trong cát, dạy thẳng tẩy rửa mới quý, tất cần phải có thủy quý. Chỗ này kim không phải Lô Trung hỏa không thể chế tạo, nhưng Giáp Ngọ thấy Bính Dần, Dần gặp hỏa sinh, Dần Ngọ hợp cục, trụ không có thổ trường sinh thì khô táo, chớ gặp mộc trợ, chủ tật yểu; Bính Ngọ nạp âm tuy là thủy, mà can chi đều thuần hỏa, gặp thêm càng hung. Sơn Đầu, Sơn Hạ, Phúc Đăng là ba hỏa đã có mộc sinh, khắc chế kim này, lại cần thủy thanh giúp đỡ, quyết chủ thiếu niên vinh quý. Mậu Tý, Kỷ Sửu long hỏa tương phùng, có Tý Ngọ giao cấu là diệu kỳ, lý là Giáp Kỷ có hợp hóa, chủ quý, phàm lấy hỏa tạp là không thành. Thủy duy chỉ có Tỉnh Tuyền, Giản Hạ, Thiên Hà, thanh tĩnh thì cát; Trường Lưu, Đại Hải thủy, động mà không tĩnh, nếu cùng thấy thì kim phiếm lạm bất an; Hải thủy thì càng kị, thấy mộc thì có quan hệ gì? Hỏa suy lại hỷ sinh phù, có thêm Lộc Mã Quý nhân hỗ hoán triều củng là vi thượng, như trụ không có hỏa, gặp 1,2 mộc thì nguy. Nếu Giáp Ngọ thấy Kỷ Tị, là nói hái kim tinh ở Hoàng Thích (nơi vua ngự), chính là quý cách vậy; kim sinh ở cát, được tạo hóa thì cát, nếu lại gặp Sa thổ, lại sợ bị chôn vùi; Lộ Bàng, Đại Dịch thổ cũng có chỗ kị, có hỏa là thứ; hỷ thấy Mậu Dần, Ất Mùi Thành Đầu thổ, gọi là khai thác tinh kim ở đất cát sạch, chính là quý cách vậy. Duy chỉ có Bính Tuất thổ trong có tàng hỏa, là kim hỉ thấy, là đồng loại, tối hỷ, thanh khí vi thượng. Hải Trung, Bạch Chá kim có hỏa chế cũng được.
Nhâm Thân, Quý Dậu: Kiếm Phong kim
Kiếm Phong kim, Bạch Đế nắm quyền, cương nhờ nung luyện, ánh hồng quang bắn ở sao Đẩu Ngưu, gươm sắc tụ ở sương tuyết. Tạo hóa kim này, không có thủy thì không thể sinh, Đại Khê, Hải thủy, ngày giờ cùng gặp là thượng cách; Tỉnh Tuyền, Giản Hạ, có Phích Lịch hỏa trợ hoặc được Ất Mão phong lôi mới tốt, nếu không có sấm sét, cũng là Kim bạch Thủy thanh cách vậy. Sinh mùa Thu càng cát, ngày giờ gặp Trường Lưu ở Nhâm Thìn, là nói Bảo kiếm hóa thành Thanh Long, Quý Tị cũng được. Kiếm này không thể biến thông. Nhưng Quý Sửu là kiếm khí xung đầu, rất cát. Tùng Bách, Dương Liễu cũng cát, nhưng nhiều tụ tán; Đại Lâm, Bình Địa sợ có thổ chế, chủ lao khổ. Hỏa thấy Thần Long, là âm dương giao ngộ, như Nhâm Thân gặp Kỷ Sửu, Quý Dậu gặp Mậu Tý, mới là thượng cách. Gặp hai hỏa Thiên Thượng, Lư Trung, không có thủy cứu thì yểu. Các chư thổ thấy nhiều đều không cát, vì bị chôn vùi, chỉ có Bích Thượng, Thành Đầu có chỗ dụng để mài kiếm sắc bén, hai thổ này thì được. Kim hỷ đồng loại, như Nhâm Thân thấy Nhâm Thân, Quý Dậu thấy Quý Dậu, có mộc chế, thì gọi là Bàn căn kém tiết, cho nên khác lợi khí vậy, không có mộc chủ mang bệnh tật. Nói chung, Kiếm Phong chính là kim sắc bén nhất, chỉ cần thủy, không cần hỏa hình, như thấy Dần Tị tam hình, là đại hung.
Canh Tuất, Tân Hợi: Thoa Xuyến kim
Thoa Xuyến kim, dùng trang sức làm đẹp, làm rạng rỡ da nhầy, là báu vật thân cận nữ sắc, là báu ngọc gối đầu ngũ thơm, chỗ này là kim tàng ở khuê các, duy chỉ cần thủy tĩnh, Tỉnh Giản, Khê Lưu thủy, thấy đều cát, thấy nhiều thì phiếm lạm, gặp Hải thủy thì bần yểu; thấy Tân Hợi Thiên Hà thủy thì không ngại, Bính Ngọ là chân hỏa, chỗ kị của Canh Tuất, vì Ngọ Tuất thấu thành hỏa cục, cho nên là có hại cho kim này vậy. Thái Dương hỏa sinh ban ngày là hiển diệu, còn Phúc Đăng hỏa thì sinh ban đêm là hiển diệu, cho nên đều cần thấy, nhưng Giáp Thìn Ất Tị cùng Canh Tuất Tân Hợi là tương xung, âm dương giao kiến là tốt, Mậu Tý Kỷ Sửu cùng Bính Ngọ Đinh Mùi là không nhân nhượng nhau, hai hỏa kị trùng điệp, thấy thì không bần cũng yểu. Lư Trung hỏa là tối kị của Canh Tuất, thấy Tân Hợi thì Bính và Tân hợp hóa thủy, hơi cát. Sơn Hạ, Sơn Đầu hỏa đều không nên thấy, nếu có thủy cứu tế, cũng được. Trong trụ có thủy, kim này sẽ nhập vào trong hộp, có phúc quý mới cát. Thấy Sa Trung thổ, là tương sinh tương dưỡng, lại có Giản Hạ thủy trợ giúp, thì vinh hoa phú quý.
Nguồn: Sách Tam Mệnh Thông Hội – Dục Ngô Sơn Nhân. Dịch sang tiếng việt: Lesoi – diễn đàn tubinhdieudung.net

Login

Register | Lost your password?